- Trang chủ
- Giới thiệu
- Hội đồng cố vấn
- Sản phẩm
- Dịch vụ
- Tin tức
- Nhà Phân Phối
- Liên Hệ
- Tìm kiếm
- Lô I-10-7, Đường D7 Khu Công Nghệ Cao, Phường Tăng Nhơn Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.(+84) 28 7301 3688Info@wembleymed.com.vn
Một lượt lấy máu xét nghiệm chỉ diễn ra trong vài phút, nhưng kết quả của nó có thể ảnh hưởng đến cả quá trình chẩn đoán và điều trị của người bệnh. Theo số liệu được nghiên cứu, mỗi năm các bệnh viện Hoa Kỳ thực hiện gần 500 triệu lượt lấy máu nội trú, và hơn 60% quyết định lâm sàng dựa trên những kết quả này. Vì vậy, chất lượng mẫu máu ngay từ khâu lấy mẫu là vô cùng quan trọng.
Vậy nên lấy máu bằng cách nào? Lấy máu tĩnh mạch trực tiếp (venipuncture) từ lâu được xem là tiêu chuẩn chăm sóc. Tuy nhiên, ở các khoa Cấp cứu và Hồi sức tích ực, nhân viên y tế ngày càng hay lấy máu qua thiết bị tiếp cận mạch máu (VADs) như ống thông tĩnh mạch ngoại vi (PIVC) hoặc đường truyền trung tâm (central line), với mong muốn người bệnh đỡ phải đâm kim nhiều lần.
Để đánh giá tính hiệu quả và mức độ phù hợp của phương pháp này, nghiên cứu tổng hợp bằng chứng đăng trên Journal for Healthcare Quality đã phân tích các phương pháp lấy mẫu máu ở ba góc độ: lâm sàng, kinh tế và trải nghiệm của người bệnh. Nhóm tác giả gồm Cathy Perry (y tá thực hành tại Tennessee Oncology, Mỹ), Kimberly Alsbrooks và Alicia Mares (Medical Affairs tại BD, Mỹ) cùng GS.BS Klaus Hoerauf (chuyên gia Gây mê và Hồi sức tích cực, Đại học Y khoa Vienna, Áo).
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành tìm kiếm trên các cơ sở dữ liệu y khoa điện tử lớn, mốc thời gian giới hạn từ năm 2010 đến nay. Sau khi sàng lọc theo hướng dẫn PRISMA, có 141 ấn phẩm được đưa vào phân tích cuối cùng. Các ấn phẩm này trải dài qua sáu châu lục, gồm cả khảo sát cắt ngang, thử nghiệm lâm sàng, lẫn nghiên cứu quan sát tiến cứu và hồi cứu.

Tỷ lệ lấy máu qua VADs khác nhau khá nhiều giữa các khoa. Theo kết quả tổng hợp từ 16 nghiên cứu báo cáo tỷ lệ này, cách lấy máu qua VADs phổ biến nhất ở khoa Cấp cứu, trung tâm chấn thương, khoa Hồi Sức Tích Cực (ICU) và khoa huyết học - ung thư. Ở những khoa này, số mẫu lấy qua VADs thường nhiều hơn số mẫu lấy bằng chọc tĩnh mạch trực tiếp, có nơi chênh lệch lên tới 4:1.
Ngược lại, với xét nghiệm thường quy, các bệnh viện lớn lại thận trọng hơn. Một khảo sát năm 2018 trên hơn 80 bệnh viện Mỹ cho thấy, 90% khuyến cáo nhân viên y tế ưu tiên lấy máu tĩnh mạch trực tiếp, thay vì rút máu từ đường truyền trung tâm, nhằm giảm nguy cơ nhiễm trùng huyết và nhiễm bẩn mẫu.
Chọc tĩnh mạch trực tiếp đôi khi đòi hỏi tay nghề và phải thử nhiều lần ở người bệnh khó lấy máu. Dù vậy, phương pháp này vẫn cho tỷ lệ lấy được mẫu cao và ổn định ở phần lớn người bệnh.
Lấy máu từ PIVC có sẵn thì gặp nhiều hạn chế hơn:
Trong các nghiên cứu ở trẻ em, tỷ lệ lấy mẫu thành công qua PIVC dao động từ 76% đến 91,3%.
Ống thông càng lưu lâu thì càng khó lấy máu. Tỷ lệ thành công là 85% với PIVC lưu dưới 24 giờ, nhưng chỉ còn 63% khi lưu trên 24 giờ, nghĩa là hơn 1/3 số lần thử không lấy được mẫu.
Vì vậy, ống thông lưu mạch khó trở thành giải pháp bền vững cho việc lấy máu xét nghiệm định kỳ.

Phát hiện đáng chú ý nhất của nghiên cứu này là tỷ lệ tán huyết (hemolysis), tức hiện tượng hồng cầu bị vỡ, ở mẫu lấy qua ống thông cao hơn đáng kể so với mẫu lấy từ tĩnh mạch trực tiếp. Hầu hết các nghiên cứu so sánh trực tiếp đều ghi nhận tỷ lệ tán huyết ở PIVC cao hơn, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Kết quả này cũng phù hợp với một phân tích gộp (meta-analysis) trước đó của Lippi và cộng sự, cho thấy lấy máu qua ống thông tĩnh mạch làm tăng đáng kể nguy cơ tán huyết giả so với kim chọc trực tiếp.
Tán huyết quan trọng vì khi hồng cầu vỡ, các chất bên trong tế bào thoát ra mẫu bệnh phẩm và có thể làm sai lệch một số chỉ số, ví dụ kali máu tăng giả. Nếu thêm nhiễm chéo chất phụ gia (như EDTA gây tăng kali giả, giảm canxi và magie giả, hoặc nhiễm chất hoạt hóa đông máu) thì nguy cơ sai số càng cao.
Hệ quả không chỉ nằm trên tờ kết quả. Mẫu bị nghi ngờ thường phải lấy lại, kéo theo thêm một lần chọc kim cho người bệnh, thêm thời gian chờ và thêm chi phí vật tư, nhân lực cho bệnh viện. Đó là cách một sai sót ở giai đoạn tiền phân tích trở thành gánh nặng kinh tế và ảnh hưởng đến trải nghiệm của người bệnh.
Từ các bằng chứng trên, nhóm tác giả nhấn mạnh rằng để giảm sai số ở giai đoạn tiền phân tích, cần kiểm soát kỹ thuật lấy mẫu và lựa chọn thiết bị phù hợp. Chọc tĩnh mạch trực tiếp vẫn là nền tảng chuẩn mực. Chất lượng của bộ dụng cụ lấy máu và hệ thống ống nghiệm chứa mẫu là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến độ tin cậy của kết quả xét nghiệm.
Trong thực hành, cần lưu ý thêm:
Tuân thủ quy trình lấy máu chuẩn và thứ tự lấy máu để hạn chế nhiễm chéo chất phụ gia.
Dùng đúng loại ống cho từng nhóm xét nghiệm.
Trong trường hợp bắt buộc phải lấy máu từ thiết bị tiếp cận mạch máu, thực hiện theo quy trình của cơ sở y tế và hướng dẫn của nhà sản xuất thiết bị.
Để chuẩn hóa khâu lấy mẫu ngay từ đầu, nhiều cơ sở y tế lựa chọn ống lấy máu chân không. Nhờ áp lực hút chân không được thiết lập sẵn, ống tự lấy đúng lượng máu cần thiết với lực hút ổn định, giúp hạn chế sai lệch do thao tác thủ công và nguy cơ vỡ hồng cầu. Thiết kế khép kín giảm tiếp xúc trực tiếp với máu, hạn chế nguy cơ nhiễm bẩn mẫu và bảo vệ an toàn sinh học cho nhân viên y tế. Ngoài ra, chỉ với một lần chọc kim có thể lấy nhiều ống liên tiếp, giúp rút ngắn thời gian thao tác và giảm đau cho người bệnh. Khi kết hợp với kỹ thuật lấy máu đúng và thứ tự lấy máu chuẩn, ng máu chân không góp phần giữ chất lượng mẫu ổn định trước khi đến phòng xét nghiệm.

Muốn kết quả xét nghiệm đáng tin cậy, việc đầu tiên là có một mẫu máu tốt. Kỹ thuật lấy máu đúng là điều kiện cần, và ống lấy máu đạt chuẩn là người đồng hành quan trọng ở giai đoạn tiền phân tích. Hiểu điều đó, WEMBLEY MEDICAL mang đến các giải pháp ống lấy máu đạt chuẩn chất lượng, đồng hành cùng cơ sở y tế ở từng giai đoạn chuẩn hóa quy trình tiền phân tích.
Ống lấy máu chân không VATRACY dành cho các cơ sở muốn lấy máu nhanh gọn, đồng bộ trong hệ thống kín. Nhờ lực hút chân không, máu đi thẳng từ tĩnh mạch vào ống, hạn chế các bước trung gian trong quá trình lấy mẫu. Hệ thống này được thiết kế để góp phần rút ngắn thời gian lấy máu, kiểm soát chính xác thể tích máu, hạn chế tán huyết và giảm nguy cơ tràn đổ mẫu, tai nạn kim đâm cho nhân viên y tế.
Thân ống làm từ nhựa PET trong suốt, chịu va đập tốt và hạn chế bay hơi hóa chất. Nắp PE có nút cao su đàn hồi cao, giúp kim đâm xuyên êm và đóng kín chắc chắn, hạn chế rò rỉ trong quá trình vận chuyển và xử lý mẫu tại phòng xét nghiệm.
VATRACY có đầy đủ các loại ống cho từng nhóm xét nghiệm:
Ống không hóa chất: dùng khi cần thu mẫu máu không sử dụng chất bổ sung.
Ống Serum (chất hoạt hóa đông máu và hạt polystyrene) và ống Serum & Gel (chất hoạt hóa đông máu, polystyrene và gel tách huyết thanh): dùng cho xét nghiệm miễn dịch thường quy, định nhóm máu, Rh, sàng lọc kháng thể và xét nghiệm dấu ấn virus trong sàng lọc lâm sàng.
Ống EDTA (K2EDTA hoặc K3EDTA): dùng cho các xét nghiệm miễn dịch huyết học thường quy, định nhóm máu và Rh.
Ống Heparin (Lithium Heparin hoặc Sodium Heparin): dùng để thu mẫu huyết tương cho xét nghiệm sinh hóa, không chỉ định cho xét nghiệm điện giải.
Ống Citrate (Sodium Citrate 3,2% hoặc 3,8%): dùng cho xét nghiệm yếu tố đông máu.
Ống Glucose (chất ức chế đường phân Sodium Fluoride kết hợp K2EDTA, Potassium Oxalate hoặc Sodium Heparin): dùng cho xét nghiệm glucose và lactate.
Ống đo tốc độ máu lắng (ESR).

Ống lấy máu URI là dòng ống lấy máu truyền thống, thuận tiện và linh hoạt, đáp ứng tốt nhu cầu lấy mẫu hằng ngày tại các cơ sở y tế. Thân ống làm từ nhựa PP (polypropylene), có khả năng chống nứt vỡ và chịu va đập tốt. Nắp PE đóng kín với thân ống, giúp mẫu không bị rò rỉ khi vận chuyển và xử lý. Cơ sở có thể chọn nắp thường hoặc nắp có nút cao su, ống vô trùng hoặc không vô trùng, với nhiều quy cách (12x75 mm, 13x100 mm, 16x100 mm). URI có các loại ống không hóa chất, EDTA, Serum, Heparin, Glucose và Citrate.

Cả hai dòng sản phẩm được sản xuất trên dây chuyền lắp ráp tự động trong phòng sạch Class 100.000, theo hệ thống quản lý chất lượng ISO 13485:2016, ISO 9001:2015, ISO 14001:2015 và tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt GMP. Sản phẩm đạt chứng nhận CE và có Giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS) tại Vương quốc Anh và Tây Ban Nha.
Perry, C., Alsbrooks, K., Mares, A., & Hoerauf, K. (2023). Comparison of clinical, economic, and humanistic outcomes between blood collection approaches: A systematic literature review. Journal for Healthcare Quality, 45(6), 359–370. https://doi.org/10.1097/JHQ.0000000000000399
Lippi G, Cervellin G, Mattiuzzi C. Critical review and meta-analysis of spurious hemolysis in blood samples collected from intravenous catheters. Biochem Med (Zagreb). 2013;23(2):193-200. https://doi.org/10.11613/BM.2013.022